Sách - Truyện - Thơ

Sự tích con Sam

Ngày xưa có hai vợ chồng một người đánh cá nghèo. Một hôm người chồng ra khơi với bạn nghề. Không may có một trận bão rất lớn nổi lên giữa lúc họ đang thả lưới. Không một người nào thoát khỏi tai nạn. Tin dữ về đến làng, tất cả mọi gia đình đánh cá đều đau khổ. Tiếng khóc lan đi các nhà. Riêng người đàn bà lòng đau như cắt. Như điên như cuồng, bà bỏ nhà ra đi, hy vọng tìm thấy chồng. Bà cứ theo bờ biển đi, đi mãi. Trải qua hai ngày đến một hòn núi lớn. Bà trèo lên rồi vì mệt quá ngủ thiếp dưới một gốc cây. Đang ngủ bỗng có một tiếng nổ dữ dội. Bà choàng dậy thấy một ông lão đầu tóc bạc phơ đứng trước mặt mình, hỏi:
    - Người là ai mà dám đến nằm trước nhà ta?
    Người đàn bà mếu máo đáp:
    -Tôi đi tìm chồng. Cụ làm ơn chỉ giúp kẻo tôi nóng lòng nóng ruột quá!
    Cụ già nói:
    - Ta là thần Cây. Thấy nhà ngươi chung tình ta rất thương. Vậy ta báo cho biết là chồng ngươi còn sống, hiện ở ngoài hải đảo.
    Nói rồi, ông cụ trao cho người đàn bà một viên ngọc và bảo:
    - Ngươi hãy ngậm viên ngọc này vào miệng thì sẽ bay qua được biển để gặp chồng. Nhưng phải nhớ là nhắm mắt ngậm miệng kẻo rơi ngọc mà nguy đó.
    Ông cụ nói xong biến mất. Bà ta lấy ngọc ngậm vào miệng và nhắm mắt lại. Thốt nhiên trời bỗng nổi gió ù ù. Bà thấy người như nhẹ bỗng, hai bên tai nghe tiếng vo vo. Được một lúc sau thấy chân chấm đất, bà mở mắt ra thì thấy mình đang đứng trên một bãi cát lạ mà gió bấy giờ đã lặng. Trông thấy chồng ngồi co ro trên bãi, bà mừng quá. Hai vợ chồng hàn huyên một hồi lâu rồi mới tính chuyện trở về làng cũ.
    Người chồng ôm ngang lưng vợ để vợ đưa qua biển cả. Lòng người vợ sung sướng không thể nói hết. Vì thế, bà đã quên mất lời của thần Cây dặn. Miệng mắc ngậm ngọc nhưng bà vẫn cố hỏi chuyện chồng. Đột nhiên viên ngọc văng ra giữa không trung. Bà chỉ kịp kêu lên một tiếng rồi cả hai vợ chồng đều sa xuống biển. Rồi đó họ hóa thành những con sam. Ngày nay, những con sam thường đi cặp đôi ở dưới nước, lúc nào con sam đực cũng ôm lấy con sam cái như khi chồng ôm vợ để bay qua biển. Có câu tục ngữ "Thương như sam", là do truyện này mà ra.

Con cáo và chùm nho

Ngày xưa, có một con Cáo hay lảng vảng gần trang trại của những người nông dân. Một hôm, nó phát hiện ra một vườn nho với đầy những chum quả tím thẫm, chín mọng ở trên cao.

Cáo liếm mép thèm thuồng nhìn những chùm nho và cẩn thận ngó quanh xem có bác nông dân nào không. Rồi nó lấy đà nhảy lên… Nhưng Cáo đã vồ trượt.

Cáo lùi lại mấy bước, và lấy hết sức bình sinh nhảy lên một lần nữa. Nhưng chùm nho ở quá cao, nó không tài nào với tới được.

Cáo lại không muốn bỏ cuộc, nó tiếp tục nhảy đi nhảy lại quanh chùm nho cho tới khi chân mỏi nhừ.

Cuối cùng, không còn cách nào khác, nó đành chịu thua chùm nho.

Cáo quay đầu bỏ đi và tự nhủ: “Thực ra mình đâu có thích ăn nho. Với lại, chắc chắn là chùm nho đó chưa chín. Chua thế thì làm sao ăn được!”.

Bài học: Khi không đạt được điều gì mà mình mong muốn, người ta thường làm bộ coi như nó không đáng để cố gắng.

Con rùa vàng

Ngày xưa, có hai người bạn thân, một người giàu tên là Đại Trượng Phu, một người nghèo tên là Chí Quân Tử.

Vợ chồng Đại Trượng Phu thấy bạn nghèo túng ngỏ ý muốn giúp vốn cho để buôn bán. Chí Quân Tử nghĩ rằng mình lấy của bạn về không may buôn bán thua lỗ thì biết lấy đâu mà trả, nên không dám lãnh, đành chịu phận nghèo.

Nhà Đại Trượng Phu đồ đạc chẳng thiếu vật gì, một hôm lấy năm lạng vàng đưa cho thợ kim hoàng làm một con rùa để bày. Gặp lúc Chí Quân Tử lại chơi, Đại Trượng Phu đem rùa vàng mới đúc ra khoe với bạn. Xem rồi để trong cái đĩa, hai người ngồi uống rượu nói chuyện, uống mãi say nằm ngủ quên đi. Con trai của Đại Trượng Phu đi học xa, về thăm nhà, thấy con rùa lấy đem đi chơi. Đến khi hai người tỉnh dậy, quên lửng con rùa vàng. Chí Quân Tử từ giã bạn ra về, một lúc Đại Trượng Phu nhớ đến con rùa vàng, hỏi vợ, vợ nói không cất, mới chẳng biết tính làm sao, không lẽ nghi cho bạn là người có bụng tốt đã lấy đi.

Một hôm, Đại Trượng Phu đến nhà Chí Quân Tử chơi, hỏi xa xôi rằng: "Hôm trước anh có cầm con rùa vàng về cho chị coi không"? Chí Quân Tử nghĩ bụng bạn nghi mình, nên nhận là có lấy về. Đại Trượng Phu mới bảo: "Anh cứ giữ con rùa vàng lại mà chơi".

Bạn về rồi, hai vợ chồng Chí Quân Tử không biết tính làm sao để trả lại cho được, bảo nhau: "Người ta thấy mình nghèo nên nghi cũng phải, không lẽ mình bảo không". Rồi đành bán nhà cửa, đưa nhau đến nhà ông bá hộ Phú Trưởng Giả, vào lạy xin ông cho ở hầu hạ, để lấy năm lạng vàng làm rùa trả cho bạn. Ông Phú Trưởng Giả nghe đầu đuôi câu chuyện, liền lấy vàng kêu thợ kim hoàn tới nhà làm một con rùa vàng, rồi trao cho hai vợ chồng đem về trả bạn. Nhưng Phú ông không nhận vợ chồng Chí Quân Tử cố thân làm tôi tớ, mà chỉ bảo giúp cho hai người thôi. Vợ chồng Chí Quân Tử nhận con rùa vàng rồi, cứ đến ở nhà Phú Trưởng Giả để hầu hạ.

Được ít lâu, con trai Đại Trượng Phu trở về thăm nhà, mang theo con rùa vàng, bảo cha mẹ: "Hôm nọ, may là con, chớ gặp phải người ngoài thì mất con rùa vàng rồi còn đâu nữa"? Vợ chồng Đại Trượng Phu ngạc nhiên, không rõ rùa vàng nào con mình lấy đi chơi, rùa vàng nào bạn đem trả, mới nghĩ ra là người bạn nghèo đã sợ mình nghi, nên mới làm con rùa khác để thế.

Đại Trượng Phu vội vàng đến nhà Chí Quân Tử, không thấy vợ chồng bạn đâu, hỏi thăm mới hay là đã đi cố thân cho nhà Phú Trưởng Giả để lấy vàng đúc rùa thường cho của mình không lấy. Tìm đến nhà ông bá hộ, Đại Trượng Phu vào trả rùa vàng cho Phú Trưởng Giả để xin lãnh vợ chồng Chí Quân Tử về. Hai bên gặp nhau cùng khóc ròng. Phú Trưởng Giả không chịu lấy rùa vàng, bảo Đại Trượng Phu: "Anh có mượn của tôi đâu mà anh trả? Còn hai vợ chồng Chí Quân Tử, tôi có bắt buộc gì đâu mà xin lãnh về". Phú Trưởng Giả không chịu lấy vàng trả, hai vợ chồng Chí Quân Tử cho là mình mắc nợ không chịu đi. Cả ba người tính không xong, mới đem đến cửa quan để xin xét xử.

Không nghe nói quan phân xử ra sao đối với ba người ngay thật và tốt bụng hiếm có này.

Hươu cao cổ tập đi

Bé hươu cao cổ mới lọt lòng mẹ. Bé nằm co ro trên đám cỏ vừa dày vừa êm. Cái đầu nhọn như trái đu đủ ngọ nguậy qua lại.. Cái cổ đã dài như cán cây lao nhà mà vẫn phải duỗi căn ra hết cỡ mới nhìn thấy đôi mắt long lanh sung sướng của mẹ ở tít trên cao.

Cặp sừng trên đầu mẹ ngan với ngọn cây keo. Mẹ uyển chuyển hạ thấp cái đầu ấy xuống. Thúc nhẹ cái mõm yêm mượt lên mũi bé, mẹ bảo:
-    Đứng lên nào! Mẹ con mình đi tìm suối.

Hươu con loạng chỏang nhổm dậy. Bốn cái chân dài lêu nghêu run rẩy. Mẹ luồn cái cổ mềm mại dưới bụng bé, giúp bé đứng vững hơn.

Rồi bé tập dùng bốn cái chân dài thườn thượt. Một. Chân phải trước bước lên. Hai. Chân trái sau bước tiếp. Ba. Chân trái trước nhấc lên. À! Phải nhớ ve vẫy cái đuôi nữa. Ôi! Nắng quá! Xa quá! Bỗng bé té lăn quèo. Mẹ ơi! Mẹ ơi!

Thì ra bé hươu cao cổ tuy mới sinh, nhưng đã cao bằng cây cau kiểng trồng trong sân trường mẫu giáo rồi. Mải lo nhìn chân mẹ, bé vướng vào một lùm cây. Cào cào, châu chấu, chuồn chuồn đang nghỉ chân trên cây. Bị đánh động, chúng giật mình, bay lên rào rào. Thế mà hay, nghe như tiếng vỗ tay khuyến khích bé hươu cao cổ tập đi.

Nhổ củ cải

Ngày xửa, ngày xưa, có hai ông bà già và một cô cháu gái sống trong một ngôi nhà gỗ bên cạnh mảnh vườn xinh xắn. Trong nhà còn có một con Chó, một con Mèo và một chú Chuột nhắt.

Vào mùa thu, ông già mang về một cây củ cải nhỏ và trồng trong vườn. Ngày ngày, ông ra sức chăm sóc cho cây. Sáng nào ông cũng cho cây cải uống một gáo nước. Chiều nào ông cũng bắt sâu, nhổ cỏ cho cây. Cây cải cũng không phụ lòng tốt của ông, nó lớn nhanh như thổi. Chẳng bao lâu, nó đã trở thành một cây cải khổng lồ, to chưa từng thấy.

Một buổi sáng, ông già ra vườn định nhổ củ cải về cho bà già và cháu gái. Ông nhổ mãi, nhổ mãi mà cây cải không hề nhúc nhích. Ông gọi bà già: “Bà già ơi! Mau lại đây! Mau giúp tôi nhổ củ cải!” Bà già chạy ra túm áo ông, ông nắm cây cải nhổ mãi, nhổ mãi vẫn không được. Bà gọi cháu gái: “Cháu gái ơi! Mau lại đây! Mau giúp bà nhổ củ cải”. Cháu gái liền chạy lại kéo áo bà già, bà túm áo ông, ông nắm cây cải,nhổ mãi, nhổ mãi mà vẫm không được. Cháu gái gọi chó con : “Chó con ơi! Mau lại đây! Mau giúp tôi nhổ củ cải”. Chó con chạy lại ngậm bím tóc của cháu gái, cháu gái kéo áo bà, bà túm áo ông, ông nắm cây cải, nhổ mãi, nhổ mãi mà cây cải vẫn trơ trơ. Chó con gọi Mèo con : “Mèo con ơi! Mau lại đây! Mau giúp tôi nhổ củ cải”. Mèo con chạy lại cắn đuôi Chó con, Chó con ngậm bím tóc cháu gái, cháu gái kéo áo bà, bà túm áo ông, ông nắm cây cải, nhổ mãi, nhổ mãi mà cây cải vẫn ì ra. Mèo con gọi Chuột nhắt: “Chuột nhắt ơi! Mau lại đây! Mau giúp tôi nhổ củ cải”. Chuột nhắt chạy ra, bám đuôi Mèo, Mèo cắn đuôi Chó, Chó ngậm bím tóc cháu gái, cháu gái kéo áo bà, bà túm áo ông, ông nắm cây cải. Một, hai,ba… Cây cảigan lì đã bị kéo lên khỏi mặt đất.

Tất cả sung sướng, nhảy múa quanh cây cải:

“Nhổ cải lên! Nhổ cải lên
Ái chà chà! Lên được rồi”

Vật báu của người chăn dê

Ngày xưa, có một người chăn dê nghèo khổ ở trong một cái hang động. Chiếc gậy của người chăn dê già để lại là vũ khí phòng thân của anh ta, hình bóng chẳng rời mỗi ngày đi chăn dê. Anh ta còn có một tấmda dê, ban ngày dùng làm áo khoác, ban đêm trải ra làm đệm, trở thành đồ dùng thân thiết nhất của anh ta.

Người chăn dê trẻ tuổi không hề được đi học, nhưng còn thông minh hơn cả những người được đi học, do anh ta hiểu biết sâu sắc tập tính của mọi loài dã thú trong rừng, thuộc những thói quen sinh hoạt của mỗi loài côn trùng ở trong bụi cỏ lá cây. Anh ta cảm nhận được niềm vui sướng trong tiếng hát lảnh lót của những con chim. Ngẩng đầu nhìn trời xanh, ngắm đám mây trắng bay bay, phán đoán được hướng gió, xác định được thời gian và những khu vực có mưa. Giới tự nhiên là sách học khoa học của anh. Anh là người hiểu thế giới xung quanh hơn bất cứ ai khác.

Người chăn dê mỗi ngày đều đi chăn dê, cùng bạn hữu vui vẻ gặp gỡ ở bãi chăn thả, có nhiều bạn tốt cùng chia ngọt sẻ bùi, hoạn nạn có nhau.

Thời gian cứ trôi đi, dần dà những người ở trên thành phố cũng biết tiếng của người chăn dê ấy. Gặp điều gì khó khăn, buồn phiền, họ cũng tìm tới, thỉnh cầu anh ta giúp đỡ. Anh bình tĩnh nghe rồi nêu ra những cách giải quyết sáng suốt, khiến mọi người tới với anh đều thoả mãn khi trở về. Không lâu sau, tên của người chăn dê đó cũng truyền tới tai Quốc vương.

Quốc vương là người sáng suốt, thương yêu những người bình dân, đặc biệt chú ý tìm những người tài năng để giao quản lý công việc quốc gia. Ông ta nghe được những lời tán dương về người chăn dê, quyết định đi một chuyến khảo sát tận nơi xem thật đó là người thông minh, lương thiện như mọi người truyền tụng hay không.

- San! Chuẩn bị cho ta một bộ quần áo cũ và cái bị! - Quốc vương bảo người hầu thân cận nhất.

San biết rằng Quốc vương đi thị sát dân tình, thường đóng vai người nghèo khổ, cho nên không hỏi gì nhiều, lập tức chuẩn bị theo ý Quốc vương. Quốc vương thay xong quần áo, xách bị thức ăn, rồi cưỡi lừa xuất phát.

Quốc vương cưỡi lừa đi mãi, đi mãi, cuối cùng tới một bãi cỏ rộng rãi, đẹp đẽ, có đàn dê lặng lẽ gặm cỏ. Người chăn dê trẻ tuổi đang nằm trong bóng cây, nhìn thấy một cụ già ăn mặc rách rưới, cưỡi lừa đi tới thì vội vàng đứng dậy nghênh đón.

- Chúc cụ già đi đường bình an. Chắc là cụ đói rồi. ở đây tôi có sữa chua và nước suối trong. Xin mời nghỉ ngơi một chút. Nhìn bụi bặm trên quần áo, hẳn là cụ đi từ xa tới.

Người chăn dê vừa nói vừa trải ra tấm da dê.

Quốc vương cười và ngồi xuống, lấy bánh ngô ra. Người chăn dê đưa lại sữa chua và nước suối. Sau đó, Quốc vương nêu một số câu hỏi và lắng nghe người chăn dê giải đáp. Họ vui vẻ trò chuyện, say sưa tới nỗi mấy tiếng đồng hồ qua đi mà chẳng biết. Quốc vương cảm thấy kinh ngạc và thán phục về tri thức uyên bác và cách nói năng chân thành, thuần phác của người chăn dê. Quốc vương đứng lên cười và nói:

- Cảm tạ người đã tiếp đãi. Tôi là một kẻ lang thang nghèo khổ, còn phải tiếp tục lên đường.

Người chăn dê cung kính hướng về Quốc vương nói:

- Quý khách từ xa xôi tới cùng tôi trò chuyện, cử chỉ và ý tứ cho thấy quý khách không phải là một người lang thang. Lẽ nào thần dân của quý khách chẳng phải đang được nói chuyện với Quốc vương?

Quốc vương nghe vậy liền nắm lấy một tay của người chăn dê, nói:

- Thật đáng khen cho đôi mắt trí tuệ! Ta đang nói chuyện với thần dân trí tuệ nhất. Ta phong cho khanh làm trưởng quan ở tất cả thôn trang mà đàn dê này đi qua.

Từ đó người chăn dê rời khỏi hang động, bỏ đi chiếc roi, cởi bỏ tấm da dê ra, tới ở tại một toà nhà có vườn ao, có kẻ hầu người hạ. Có lúc anh cũng mặc quần áo sang trọng, cưỡi tuấn mã cao, to tới thị sát ở khắp vùng anh ta cai quản. Phía sau anh ta bao giờ cũng có lạc đà và lừa thồ hành lý cùng các vật dụng.

Thoạt đầu thì những người nông dân rất phấn khởi. Mỗi lần gặp gỡ, họ đều quây lấy người chăn dê để trò chuyện, thổ lộ tâm can. Người chăn dê đối với họ vẫn chan hoà, thân thiết, quan tâm tới mọi chuyện. Nhưng rồi mọi người dần dần không tín nhiệm người chăn dê nữa bởi phát hiện anh ta dù đi đâu đằng sau vẫn có một con lạc đà thồ một chiếc hòm sắt được khoá chặt bằng hai chiếc khoá to.

"Dùng chiếc hòm sắt ấy để làm gì?" Mọi người bắt đầu bàn tán lung tung.

- Vì sao lại phải khoá bằng hai chiếc khoá? Phải chăng bên trong có vật báu gì?
Lại có người nói:

- Cũng có thể bên trong chứa tiền thuế mà chúng ta giao nộp!

Người thứ ba nói:

- Thế thì không thật thà! Tiền thuế thì phải nộp cho Quốc vương, lẽ nào trưởng quan lại khấu chiết một phần làm của riêng?

Thế là trong mắt, trong lòng mọi người, người chăn dê thành thực xưa kia biến thành một kẻ tham quan, ô lại. Mọi người bắt đầu xa lánh anh ta.

Tiếng lành đồn xa, tiếng xấu cũng đồn xa, Quốc vương không lâu sau cũng nghe nói về hành vi tham nhũng của người chăn dê, nhưng lại không để tâm do tự tin về nhận xét tốt của mình đối với người chăn dê. Nhưng những tin tức xấu càng truyền tới nhiều khiến cuối cùng Quốc vương cũng sinh nghi và bực bội.

- San! Mang lại cho ta áo bào sang trọng nhất, chuẩn bị ngay tuấn mã. Lần này ta cần xuất phát với nghi lễ sang trọng nhất! - Quốc vương ra lệnh.

Mọi người đã sẵn sàng. Quốc vương phi thẳng tới người chăn dê đảm nhiệm công việc của một trưởng quan. Một đoàn pháp quan quý tộc tháp tùng hai bên tả, hữu.
 

Không lâu sau Quốc vương nhìn thấy một đội người ngựa đang phi tới. Hoá ra người chăn dê đưa những tuỳ tòng tới nghênh đón Quốc vương, phía sau anh ta vẫn là một con lạc đà thồ chiếc hòm sắt.

Người chăn dê cung kính đứng trước Quốc vương nói lời hoan nghênh Quốc vương tới thị sát. Nhưng Quốc vương tỏ ra lạnh nhạt, nghiêm trang hỏi:

- Khanh đảm nhiệm trưởng quan chưa lâu, nhưng đã bao lời bàn tán, dị nghị về khanh. Khanh đã làm điều gì? Khanh lẽ nào trở thành kẻ cướp tàn bạo của người nghèo?

Người chăn dê cung kính, nói với Quốc vương:

- Bệ hạ! Những lời đồn đại về hạ thần, hạ thần cũng đã nghe được. Nhưng hạ thần không làm một việc gì phải lại huấn thị của Bệ hạ, hoặc là vi phạm đạo đức làm người!

Quốc vương cả giận, quát:

- Đúng thế không? Sự thực đang ở trước mắt kia. Lạc đà ở sau khanh đang thồ cái gì vậy? Mở ngay chiếc hòm sắt ra!

Người chăn dê nghe xong như đã hiểu ra tất cả. Anh lập tức bước tới trước lạc đà, khẽ vỗ vỗ vào nó một cái. Lạc đà quỳ xuống. Sau đó anh ta lấy chiếc chìa khoá sắt dắt ở sau thắt lưng, mở chiếc hòm sắt ra.

Các đại thần, pháp quan quý tộc đều xúm lại xem. Ngay Quốc vưng cũng nhướng người lên xem xem trong chiếc hòm sắt chứa báu vật gì. Nhưng mọi người chỉ tỏ nỗi thất vọng và kinh ngạc, nhanh chóng tản ra. Trong chiếc hòm sắt, ngoài tấm da dê chẳng hề có thứ gì cả.

Người chăn dê bưng tấm da dê bước tới trước mặt Quốc vương, nói:

- Tấm da dê này là người bạn đã đồng cam cộng khổ cùng với hạ thần, cũng là báu vật duy nhất của hạ thần. Tuy Bệ hạ giao cho làm trưởng quan, nhưng không phút giây nào hạ thần quên mình là một người chăn dê nghèo khổ, từng sống lang thang trong hang động. Niềm hạnh phúc lớn nhất, nguyện vọng lớn nhất của hạ thần là giải trừ khó khăn, lo âu của dân. Tấm da dê này luôn nhắc nhở hạ thần không được quên nhiệm vụ của mình. Giả sử có một ngày nào có người muốn hạ thần trở về với rừng sâu, thì hạ thần sẽ khoác lên thân mình tấm da dê đó!

Quốc vương nghe xong, bất giác ứa ra dòng nước mắt nóng hổi. Quốc vưng xuống ngựa, nắm lấy bàn tay của người chăn dê trung thực đó, nói:

- Ôi trưởng quan trí tuệ nhất! Từ nay về sau trẫm tín nhiệm khanh, phong khanh làm quan tối cao của quốc gia!

Thế là người chăn dê trở thành người có địa vị tối hiển hách của vương quốc, nhưng anh ta trước sau vẫn không bao giờ quên vì dân tạo phúc, và cho tới chết vẫn một mực giữ gìn, mang theo tấm da dê cũ kỹ ấy.


 


 


 


 

Trang chủ In ấn Trang trước
Góc hình ảnh
Sách - Truyện - Thơ
Nhạc - phim


Công ty TNHH Quảng Cáo và Truyền Thông Thương Hiệu Việt - Vietmark
14 Đặng Văn Ngữ, Phương Liên, Đống Đa, Hà Nội.
Tel: 04.35735886 - Fax: 04.38521237 - Hotline:0903266611 - Email: info@vietbayby.com.vn - Website: www.vietbaby.com.vn